- Bản vẽ bố trí trả lời câu hỏi đồ đặt ở đâu; bản vẽ triển khai trả lời câu hỏi đồ được làm ra sao.
- Ảnh phối cảnh 3D là hình minh hoạ, không mang kích thước và không dùng để sản xuất.
- Bản vẽ dùng để ký duyệt phải có kích thước, cao độ, ký hiệu vật liệu và tỷ lệ ghi trên khung tên.
Trong quy trình bốn bước thông thường — đo tại nhà, dựng bản vẽ và báo giá, sản xuất tại xưởng, lắp đặt và nghiệm thu — bước thứ hai là bước duy nhất bạn có quyền sửa mọi thứ mà không tốn gì. Sau khi gỗ đã cắt, mỗi thay đổi đều là một tấm ván bỏ đi.
Vấn đề là bộ hồ sơ gửi cho bạn thường gồm nhiều loại giấy tờ trông giống nhau, và không phải loại nào cũng nói về thứ sẽ được sản xuất.
Hai loại bản vẽ, hai việc khác nhau
| Tiêu chí | Bản vẽ bố trí | Bản vẽ triển khai |
|---|---|---|
| Trả lời câu hỏi | Đồ đặt ở đâu, đi lại thế nào | Món đồ đó được làm ra sao |
| Nhìn từ hướng nào | Nhìn từ trên xuống, cả phòng | Nhìn thẳng vào từng món, cộng mặt cắt |
| Tỷ lệ thường gặp | Nhỏ, cả phòng vừa một trang | Lớn hơn, một món chiếm cả trang |
| Ghi kích thước gì | Kích thước phủ bì và khoảng cách giữa các món | Kích thước từng khoang, từng cánh, độ dày ván |
| Ghi vật liệu không | Thường không, hoặc chỉ ghi tên chung | Có: cốt, bề mặt, mã màu, phụ kiện theo vị trí |
| Dùng để làm gì | Thống nhất phương án với bạn | Đưa xuống xưởng cắt và sản xuất |
| Sửa ở bước này tốn gì | Chỉ tốn thời gian vẽ lại | Sửa sau khi đã sản xuất thì tốn vật tư |
Bản vẽ bố trí trả lời câu hỏi gì
Đây là mặt bằng nhìn từ trên xuống, có tường, cửa và các món đồ đặt vào vị trí. Khi xem, bạn kiểm những thứ liên quan đến sinh hoạt chứ không phải chi tiết gỗ:
- Lối đi giữa các món có đủ rộng không, đặc biệt chỗ hai người phải tránh nhau.
- Cửa phòng, cửa tủ và ngăn kéo mở ra có vướng nhau không. Bản vẽ tốt vẽ cả cung mở của cánh.
- Ánh sáng tự nhiên: món đồ cao có chắn cửa sổ không.
- Ổ điện có bị món đồ nào che mất không.
- Thứ tự sinh hoạt hằng ngày: từ cửa vào, bạn đi qua những gì.
Đây là bản vẽ đáng ngồi lâu nhất, vì nó quyết định những thứ không sửa được sau này bằng cách đổi vật liệu.
Bản vẽ triển khai trả lời câu hỏi gì
Bản vẽ triển khai là bộ hình của từng món: mặt đứng nhìn thẳng vào cánh tủ, mặt cắt bổ dọc để thấy bên trong, và bản vẽ chi tiết cho những chỗ đặc biệt.
Những gì cần có trên đó:
- Kích thước tổng và kích thước từng khoang. Cộng các khoang lại phải ra kích thước tổng; đây là phép kiểm nhanh nhất.
- Cao độ. Chiều cao mặt bàn, chiều cao thanh treo áo, chiều cao kệ tính từ mặt sàn hoàn thiện.
- Ký hiệu vật liệu theo vị trí. Cánh dùng bề mặt gì, thùng dùng gì, hậu dùng gì. Ba chỗ này thường khác nhau.
- Chiều mở của cánh và loại phụ kiện. Cánh mở trái hay phải, ngăn kéo dùng ray gì.
- Khung tên có tỷ lệ, ngày và số hiệu bản vẽ. Không có số hiệu thì không ai biết bản nào là bản mới nhất.
Ảnh 3D không phải bản vẽ
Phối cảnh 3D là thứ dễ xem nhất trong cả bộ hồ sơ, nên nó cũng là thứ hay bị dùng làm căn cứ duyệt. Nó không phải căn cứ.
Ảnh 3D được dựng để truyền đạt cảm giác: màu sắc, tỷ lệ, ánh sáng. Nó thường không mang kích thước, và nhiều chi tiết trong ảnh — cây xanh, tranh, đèn trang trí, thảm — là đồ trang trí thêm vào cho đẹp khung hình, không nằm trong hợp đồng. Màu trong ảnh còn phụ thuộc màn hình bạn đang xem.
Cách dùng đúng: xem 3D để chọn phương án, rồi đối chiếu từng chi tiết mình thích trong ảnh với bản vẽ triển khai và bảng chất liệu. Cái gì có trong ảnh mà không có trong hai tài liệu kia thì hỏi ngay, trước khi ký.
Bốn thứ cần kiểm trước khi ký duyệt
- Số đo trên bản vẽ có khớp số đo thực tế không. Lấy thước ra kiểm lại một hai kích thước tường trên bản vẽ. Sai lệch ở đây là sai lệch dây chuyền.
- Món đồ có đi lọt vào nhà không. So kích thước phủ bì của từng khối liền với bề rộng cửa và thang máy.
- Chiều cao có tính đến sàn hoàn thiện chưa. Bản vẽ ghi cao độ tính từ đâu, phải nói rõ.
- Ngày và số hiệu bản vẽ trùng với bản đính kèm hợp đồng. Ký một bản, thi công một bản khác là tranh chấp phổ biến nhất và cũng dễ tránh nhất.

